0939.13.13.16     luattovang@gmail.com

Bán đất đứng tên riêng có cần chữ ký của cả vợ chồng không?

Khi thực hiện giao dịch mua bán đất của vợ chồng, câu hỏi được nhiều người đặt ra đó là bán đất đứng tên riêng có cần chữ ký của cả vợ chồng. Thực trạng hiện nay còn phát sinh khá nhiều trường hợp vợ hoặc chồng bán đất nhưng không thông báo cho đối phương và sử dụng mục đích cá nhân gây ảnh hưởng quyền lợi của một bên.

Tài sản riêng, chung của vợ chồng

Tài sản riêng: Theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng gồm

“…tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”

Tài sản chung: Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm

“…tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Sổ đỏ có bắt buộc phải có tên cả hai vợ chồng không?

Khi được xem là tài chung:

Theo khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”         

Theo khoản 4 Điều 98 Luật này cũng quy định:

“Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.”

Vậy căn cứ theo quy định pháp luật, nếu vợ, chồng không có thỏa thuận Sổ đỏ đứng tên một người thì trong Sổ đỏ phải ghi tên cả vợ và chồng khi nhà, đất là tài sản chung của vợ chồng.

Khi trên Sổ đỏ chỉ có tên một người vợ hoặc chồng thì theo điểm b khoản 3 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng thì được xác định như sau:

+ Nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng;

+ Nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật này tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

Trường hợp nào bán đất phải có chữ ký của cả hai vợ chồng?

 Tài sản chung:

- Vì khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ, chồng nên nếu vợ, chồng bán nhà, đất mà Sổ đỏ đứng tên cả hai vợ chồng thì khi thực hiện thủ tục phải có sự đồng ý của cả hai. Hay khi ký vào hợp đồng mua bán phải có đầy đủ chữ ký của cả vợ hoặc chồng trừ trường hợp có ủy quyền.

- Nếu tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng thì theo điểm b khoản 3 Nghị quyết 02/2000/NQ – HĐTP:

+ Nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng;

+ Nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật này tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

+ Nếu Sổ đỏ chỉ đứng tên một người trong thời kỳ hôn nhân và không có tài liệu chứng minh là tài sản riêng thì vẫn là tài sản chung thì khi bán vẫn cần sự đồng ý và chữ ký của cả hai. Nếu một trong hai bên không thể ký thì phải ủy quyền theo quy định pháp luật.

Tài sản riêng:

Khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.”

Vậy nếu nhà, đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, Sổ đỏ đứng tên một trong hai người thì khi bán không cần chữ ký của cả hai.

Hãy liên hệ với Luật Tô Vàng ngay bây giờ để trò chuyện với luật sư của chúng tôi nếu các thông tin trên chưa giải đáp được vấn đề của quý khách đang gặp phải. Chúng tôi sẽ lắng nghe những vấn đề pháp lý mà quý khách hàng đang đối mặt và cung cấp những lời khuyên đáng tin cậy và chính xác. Luật Tô Vàng - Luật sư Cần Thơ - Dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp.