Thủ tục mua, bán công ty trách nhiệm hữu hạn(TNHH) một thành viên
Trong tình hình kinh tế hiện nay, mua bán công ty...
0939.13.13.16 luattovang@gmail.com
Quyền thành lập doanh nghiệp là một trong những quyền kinh tế quan trọng, được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền này trong mọi trường hợp. Thực tiễn tư vấn pháp lý cho thấy rất nhiều cá nhân, đặc biệt là cán bộ, công chức, người đang làm việc trong doanh nghiệp nhà nước hoặc có vướng mắc về lý lịch tư pháp, còn nhầm lẫn hoặc hiểu chưa đầy đủ về quyền và điều kiện thành lập doanh nghiệp.
Bài viết dưới đây được Công ty Luật Tô Vàng xây dựng dựa trên các quy định mới nhất của Nghị định 168/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/07/2025), Luật Doanh nghiệp 2020 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn tư vấn doanh nghiệp, nhằm giúp bạn đọc hiểu đúng – hiểu đủ – và áp dụng chính xác pháp luật khi có nhu cầu thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Theo Điều 5 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ. Quy định này tiếp tục khẳng định nguyên tắc xuyên suốt của Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ: Nhà nước không can thiệp bằng cơ chế “xin – cho” mà chỉ quản lý thông qua thủ tục đăng ký.
Nói cách khác, khi cá nhân, tổ chức đáp ứng đủ điều kiện luật định thì có quyền đương nhiên đăng ký thành lập doanh nghiệp, và cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo đúng trình tự, thời hạn pháp luật quy định.
Quyền luôn đi kèm nghĩa vụ. Khoản 2 Điều 5 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định rõ: người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có nghĩa vụ:
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời thủ tục đăng ký doanh nghiệp;
- Công khai thông tin về việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp;
- Tuân thủ các quy định của Nghị định 168/2025/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan.
Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ này có thể dẫn đến hậu quả pháp lý như bị xử phạt vi phạm hành chính, bị yêu cầu khắc phục, thậm chí bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong một số trường hợp nghiêm trọng. Liên hệ Luật Tô Vàng để được tư vấn chi tiết.
Một điểm tiến bộ rất quan trọng tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 168/2025/NĐ-CP là nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân trong quá trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Quy định này tạo hành lang pháp lý rõ ràng để người dân, doanh nghiệp:
- Khiếu nại hành vi sách nhiễu, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ;
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện thủ tục hành chính.
Mặc dù quyền thành lập doanh nghiệp được bảo hộ, nhưng Luật Doanh nghiệp không cho phép mọi chủ thể đều có quyền này. Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định một danh sách cụ thể các tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.
Danh sách này mang tính liệt kê đóng, nghĩa là chỉ những đối tượng được nêu rõ mới bị cấm, bao gồm các nhóm đối tượng sau đây:
Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không được sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình. Quy định này nhằm phòng, chống việc lạm dụng quyền lực và tài sản công cho mục đích tư lợi.
Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên, pháp luật có ngoại lệ: trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là điểm mới, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tri thức và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong Công an nhân dân Việt Nam không được thành lập và quản lý doanh nghiệp.
Ngoại lệ duy nhất là trường hợp được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước.
Theo điểm d khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước cũng thuộc diện bị hạn chế quyền này, trừ trường hợp được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác.
Quy định này cần được hiểu đồng bộ với Điều 88 Luật Doanh nghiệp về doanh nghiệp nhà nước.
Các đối tượng sau không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp:
+ Người chưa thành niên;
+ Người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
+ Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
+ Tổ chức không có tư cách pháp nhân.
Đây là nhóm đối tượng mà pháp luật bảo vệ thông qua việc hạn chế quyền nhằm tránh rủi ro pháp lý và thiệt hại cho xã hội.
Luật Doanh nghiệp cấm các cá nhân sau đây thành lập và quản lý doanh nghiệp:
+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Người bị tạm giam hoặc đang chấp hành hình phạt tù;
+ Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
+ Người bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
+ Các trường hợp khác theo Luật Phá sản và Luật Phòng, chống tham nhũng.
Trong các trường hợp cần thiết, khi cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp.
Cần lưu ý: đây không phải là thủ tục bắt buộc trong mọi hồ sơ, mà chỉ phát sinh khi có yêu cầu hợp pháp từ cơ quan có thẩm quyền.
Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động trong một số lĩnh vực theo quy định của Bộ luật Hình sự không có quyền thành lập doanh nghiệp mới.
Theo Điều 88 Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, bao gồm:
- Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
- Các doanh nghiệp khác theo tiêu chí luật định.
Việc xác định đúng doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định đối tượng bị hạn chế quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo Điều 17.
Quyền thành lập doanh nghiệp là quyền quan trọng nhưng không tuyệt đối. Việc hiểu đúng các quy định của Nghị định 168/2025/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025 sẽ giúp cá nhân, tổ chức tránh được những rủi ro pháp lý không đáng có ngay từ bước đầu khởi sự kinh doanh.
Vì sao nên nhờ luật sư tư vấn khi thành lập doanh nghiệp?
Luật sư tư vấn chuyên sâu về doanh nghiệp không chỉ giúp hoàn thiện hồ sơ đăng ký mà còn:
- Đánh giá rủi ro pháp lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị;
- Tư vấn cấu trúc doanh nghiệp, tái cấu trúc doanh nghiệp phù hợp;
- Đồng hành lâu dài trong quá trình hoạt động, thay đổi đăng ký kinh doanh, xử lý tranh chấp.
Nếu bạn đang có nhu cầu thành lập doanh nghiệp hoặc cần rà soát điều kiện pháp lý của mình, hãy liên hệ Công ty Luật Tô Vàng để được tư vấn chi tiết, chính xác và kịp thời. Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, đứng đầu là Luật sư Tô Thị Mộng Vàng, Công ty Luật Tô Vàng đã và đang hỗ trợ hàng nghìn doanh nghiệp trên toàn quốc thành lập và vận hành an toàn, đúng pháp luật.
Công ty Luật Tô Vàng – Đồng hành pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp Việt.
CÔNG TY LUẬT TÔ VÀNG - HỖ TRỢ PHÁP LÝ TRỌN GÓI TỪ A-Z
Hotline/Zalo: 0939131316
Fangage: Công ty Luật Tô Vàng - Luật sư tư vấn Cần Thơ
Website: luattovang.vn
Xem thêm: Tiệm tạp hóa nhỏ lẻ bắt buộc đóng Thuế GTGT từ 01/01/2026?