0939.13.13.16     luattovang@gmail.com

Khởi kiện người thừa kế nhưng không chứng minh được di sản thì Tòa án có thụ lý giải quyết không?

Thiếu chứng cứ về di sản thừa kế: Có phải căn cứ trả lại đơn khởi kiện không? 

Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, không ít trường hợp người có nghĩa vụ trả nợ qua đời nhưng khoản nợ vẫn chưa được thanh toán. Khi đó, chủ nợ có thể khởi kiện những người thừa kế để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, một vấn đề thường phát sinh là: Nếu người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh người chết có để lại tài sản thì Tòa án có được trả lại đơn khởi kiện với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện hay không? Đây không chỉ là vấn đề liên quan đến nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện và quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền đối với khoản nợ.

Tại nội dung giải đáp vướng mắc số 27 trong Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026, Tòa án nhân dân tối cao đã làm rõ vấn đề này, theo hướng phân biệt giữa điều kiện khởi kiện và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Mời các bạn cùng Luật Tô Vàng tìm hiểu. 

1. Người chết để lại nghĩa vụ tài sản thì người thừa kế có phải tiếp tục thực hiện không?

Trước khi xem xét vấn đề khởi kiện, cần xác định nguyên tắc pháp lý về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Theo Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Đồng thời, Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau:

- Trường hợp di sản chưa được chia, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế, trong phạm vi di sản do người chết để lại.

- Trường hợp di sản đã được chia, mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Người hưởng di sản theo di chúc không phải là cá nhân cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định.

Như vậy, người thừa kế không đương nhiên phải dùng toàn bộ tài sản riêng của mình để thanh toán các khoản nợ do người chết để lại. Về nguyên tắc, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản được giới hạn trong phạm vi di sản mà người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đây chính là cơ sở pháp lý để chủ nợ xem xét khởi kiện người thừa kế nhằm yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã chết.

2. Không chứng minh được người chết có tài sản thì Tòa án có được trả lại đơn khởi kiện không?

Đây là nội dung trọng tâm được Tòa án nhân dân tối cao giải đáp tại mục 27 Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026.

Tình huống được đặt ra như sau:

Một người khởi kiện những người thừa kế của người đã chết để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Tuy nhiên, tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh người chết có để lại tài sản.

Vậy Tòa án phải thụ lý vụ án hay trả lại đơn khởi kiện vì cho rằng người khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự?

Để giải quyết vấn đề này, cần xem xét quy định về trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

2.1. Quy định về trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện

Điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.”

Theo quy định này, không phải mọi trường hợp người khởi kiện chưa cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ đều được xác định là chưa đủ điều kiện khởi kiện. Việc áp dụng căn cứ trả lại đơn này phải gắn với trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về điều kiện khởi kiện và người khởi kiện chưa đáp ứng một trong những điều kiện đó.

2.2. Hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP

Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện như sau:

“Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”.

Từ quy định trên có thể thấy, điều kiện khởi kiện và việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Việc người khởi kiện chưa có tài liệu chứng minh người chết để lại tài sản không đồng nghĩa với việc người khởi kiện chưa đáp ứng một điều kiện khởi kiện do pháp luật quy định.

Nói cách khác, không thể mặc nhiên xem việc thiếu chứng cứ chứng minh có di sản là căn cứ để trả lại đơn khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Quan điểm giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao tại Công văn 250/TANDTC-PC

Trên cơ sở đối chiếu quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP, Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra hướng giải đáp cụ thể tại mục 27 Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026.

Theo đó:

Trường hợp tại thời điểm khởi kiện, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh người chết có để lại tài sản thì không thuộc trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP. Vì vậy, Tòa án vẫn phải xem xét thụ lý vụ án.

Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo quy định pháp luật. Như vậy, hướng giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao đã xác định rõ: Việc chưa cung cấp được chứng cứ về tài sản do người chết để lại không phải là căn cứ độc lập để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi giải quyết các vụ án yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

4. Vì sao cần phân biệt điều kiện khởi kiện với nghĩa vụ chứng minh?

Để hiểu rõ hơn nội dung giải đáp nêu trên, cần phân biệt hai vấn đề pháp lý có bản chất hoàn toàn khác nhau.

4.1. Điều kiện khởi kiện là căn cứ để xác định quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án

Điều kiện khởi kiện liên quan đến việc người khởi kiện có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay không, đồng thời có đáp ứng những điều kiện mà pháp luật quy định đối với việc khởi kiện hay không.

Ví dụ, pháp luật quy định một số tranh chấp phải được thực hiện thủ tục hòa giải tại cơ quan có thẩm quyền trước khi khởi kiện. Nếu người khởi kiện chưa thực hiện thủ tục hòa giải bắt buộc trong trường hợp pháp luật yêu cầu thì có thể thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện. Trong khi đó, việc người khởi kiện chưa có tài liệu chứng minh người chết để lại tài sản là vấn đề liên quan đến chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện, không mặc nhiên là điều kiện tiên quyết để được quyền khởi kiện.

4.2. Nghĩa vụ chứng minh là trách nhiệm của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án

Theo khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đặc biệt, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

Như vậy, pháp luật đã phân định rõ hai giai đoạn:

- Giai đoạn xem xét đơn khởi kiện: Tòa án xem xét các điều kiện thụ lý và những căn cứ trả lại đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Giai đoạn giải quyết vụ án: Đương sự phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình.

Do đó, không nên đồng nhất việc chưa có đủ chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện với việc chưa đủ điều kiện khởi kiện.

5. Sau khi thụ lý, người khởi kiện cần chứng minh những vấn đề gì?

Mặc dù Tòa án không được mặc nhiên trả lại đơn khởi kiện chỉ vì người khởi kiện chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh người chết có tài sản, nhưng điều này không có nghĩa người khởi kiện được miễn nghĩa vụ chứng minh. Sau khi vụ án được thụ lý, người khởi kiện vẫn phải chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp. Đối với vụ án yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, người khởi kiện cần chú ý các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, chứng minh nghĩa vụ tài sản của người đã chết.

Cần xác định người chết thực sự có nghĩa vụ tài sản đối với người khởi kiện hay không; nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch, hợp đồng, khoản vay, nghĩa vụ bồi thường hoặc căn cứ pháp lý nào khác.

Tài liệu có thể bao gồm hợp đồng vay, giấy nhận nợ, giấy giao nhận tiền, chứng từ chuyển khoản, văn bản xác nhận công nợ, bản án hoặc quyết định có liên quan và các tài liệu khác.

Thứ hai, chứng minh người bị kiện là người thừa kế hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến di sản.

Cần làm rõ quan hệ thừa kế, tư cách của những người bị kiện và căn cứ xác định họ là người hưởng di sản của người đã chết.

Thứ ba, chứng minh người chết có để lại di sản.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong vụ án.

Người khởi kiện cần thu thập tài liệu để xác định những tài sản thuộc di sản, chẳng hạn:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;

- Giấy đăng ký xe hoặc giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản;

- Tài liệu về tiền gửi, tài khoản, khoản đầu tư hoặc tài sản có giá trị;

- Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, giấy tờ giao nhận tài sản;

- Tài liệu về quyền tài sản, khoản phải thu của người chết;

- Các tài liệu khác chứng minh tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người đã chết.

Thứ tư, xác định phạm vi nghĩa vụ mà những người thừa kế phải thực hiện.

Cần đối chiếu giá trị nghĩa vụ tài sản với phạm vi di sản mà người chết để lại, phần di sản đã được phân chia cho từng người và các thỏa thuận khác (nếu có). Việc xác định chính xác các vấn đề trên sẽ là cơ sở để Tòa án xem xét tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện.

6. Nếu người khởi kiện không chứng minh được người chết có di sản thì hậu quả pháp lý thế nào?

Cần phân biệt rõ: Tòa án vẫn xem xét thụ lý vụ án không đồng nghĩa với việc yêu cầu khởi kiện đương nhiên được chấp nhận.

Sau khi thụ lý, nếu người khởi kiện không cung cấp được chứng cứ chứng minh người chết có để lại tài sản hoặc không chứng minh được những căn cứ cần thiết khác cho yêu cầu của mình, Tòa án sẽ đánh giá vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ.

Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, trường hợp đương sự có nghĩa vụ chứng minh nhưng không đưa ra được chứng cứ hoặc đưa ra không đầy đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được.

Do đó, tùy kết quả chứng minh và đánh giá chứng cứ, Tòa án có thể không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nếu người khởi kiện không chứng minh được yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp.

Điều này cho thấy việc thụ lý vụ án và việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau:

- Thụ lý vụ án là việc Tòa án tiếp nhận và giải quyết tranh chấp theo trình tự tố tụng khi đáp ứng các điều kiện luật định.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện là kết quả giải quyết nội dung vụ án sau khi xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ và căn cứ pháp luật.

Vì vậy, người khởi kiện không nên hiểu rằng chỉ cần Tòa án thụ lý vụ án thì đã có cơ sở buộc những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

7. Ý nghĩa thực tiễn của Công văn 250/TANDTC-PC đối với các vụ án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Giải đáp tại mục 27 Công văn số 250/TANDTC-PC có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định giữa giai đoạn xem xét điều kiện khởi kiện và giai đoạn chứng minh yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án.

Trước hết, nội dung giải đáp giúp hạn chế việc áp dụng không đúng điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, đặc biệt là trường hợp đồng nhất việc thiếu tài liệu, chứng cứ với việc chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Bên cạnh đó, hướng dẫn này cũng góp phần bảo đảm quyền khởi kiện của người có quyền, lợi ích hợp pháp, tránh việc người khởi kiện bị từ chối tiếp cận cơ chế bảo vệ quyền lợi chỉ vì chưa có đầy đủ tài liệu chứng minh về tài sản của người đã chết tại thời điểm nộp đơn.

Đối với người khởi kiện, đây là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền khởi kiện khi Tòa án trả lại đơn với lý do chưa chứng minh được người chết có để lại di sản, trong khi không có quy định pháp luật xác định đây là điều kiện khởi kiện bắt buộc.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Công văn số 250/TANDTC-PC là văn bản thông báo kết quả giải đáp vướng mắc trong công tác xét xử, không phải văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung giải đáp có ý nghĩa hướng dẫn nghiệp vụ, định hướng áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử và cần được đối chiếu với các quy định pháp luật có liên quan khi giải quyết từng vụ việc cụ thể.


Từ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP và nội dung giải đáp tại mục 27 Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, có thể xác định:

Việc người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh người chết có để lại tài sản tại thời điểm khởi kiện không thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án vẫn phải xem xét thụ lý vụ án nếu các điều kiện tố tụng khác được đáp ứng.

Sau khi thụ lý, người khởi kiện vẫn có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình theo quy định pháp luật. Trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh, Tòa án sẽ giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ.

Như vậy, cần phân biệt rõ quyền khởi kiện, điều kiện thụ lý vụ án và nghĩa vụ chứng minh yêu cầu khởi kiện. Đây là ba vấn đề có mối liên hệ nhưng không đồng nhất, việc áp dụng đúng sẽ góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự.


CÔNG TY LUẬT TÔ VÀNG – TƯ VẤN VÀ BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP

Trong các vụ việc yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, việc xác định đúng người có nghĩa vụ, phạm vi di sản, căn cứ phát sinh nghĩa vụ và chiến lược thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả giải quyết vụ án.

Công ty Luật Tô Vàng cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, tham gia giải quyết tranh chấp dân sự, tranh chấp thừa kế và các vụ việc liên quan đến nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Nếu Bạn đang gặp khó khăn trong việc khởi kiện, bị trả lại đơn khởi kiện hoặc cần xác định trách nhiệm của những người thừa kế đối với khoản nợ của người đã chết, hãy liên hệ Công ty Luật Tô Vàng để được tư vấn và đánh giá hồ sơ cụ thể.

Thông tin liên hệ:

- Hotline: 0939.13.13.16

- Fanpage: Công ty Luật Tô Vàng – Luật sư tư vấn Cần Thơ

- Website: Luật Tô Vàng | Luật sư Cần Thơ và các tỉnh thành


Xem thêm: Sang tên sổ đỏ thừa kế có áp dụng hạn mức đất ở mới không?

Xem thêm: Mua bán tài khoản ngân hàng bị phạt thế nào 2026?