Ngoại tình sẽ bị hạn chế quyền nuôi con?
Trong xã hội hiện đại, khi tư duy và lối sống bắt...
0939.13.13.16 luattovang@gmail.com
Đã kết hôn thì đứng tên một mình trên giấy chứng nhận QSD đất được không?
Đã kết hôn đứng tên một mình trên giấy chứng nhận QSD đất được pháp luật quy định như thế nào bởi trong trường hợp vợ hoặc chồng muốn đứng tên chủ sở hữu một tài sản trên số trong thời kỳ hôn nhân. Có những trường hợp tài sản của một trong hai bên vợ chồng khi đã kết hôn có thể được đứng tên một mình trên giấy chứng nhận QSD đất.
Quy định chung về giấy chứng nhận QSD đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất dựa theo màu sắc của Giấy chứng nhận cách gọi phổ biến của người dân thường gọi là “Sổ đỏ, sổ hồng”. Hiện nay không có một văn bản nào quy định về khái niệm số đỏ.
Căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành kế thừa tên gọi Giấy chứng nhận mới, cụ thể: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”
Điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSD đất
Theo Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, nếu hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các giầy tờ được quy định thì sẽ được cấp Giấy chứng nhận theo quy định pháp luật, cụ thể:
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các giầy tờ được quy định về quyền sử dụng đất đứng tên mình;
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giầy tờ về quyền sử dụng đất mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, thì sẽ được cấp giầy chứng nhận nếu có đủ các điều kiện: Có giầy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp.
+ Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thị hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2014 mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp.
Theo Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và không có giấy tờ về quyền sử dụng đất vẫn được cấp Giấy chứng nhận, cụ thể:
+ Không nộp tiền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện như: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày 01/7/2014; có hộ khẩu thường trú tại địa phương; trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế — xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế — xã hội đặc biệt khó khăn; được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.
+ Có thể phải nộp tiền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện như: Đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004; đất đang sử dụng không vi phạm pháp luật về đất đai; được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch tại địa phương.
Đã kết hôn đứng tên một mình trên giấy chứng nhận QSD đất được không?
Khi đã kết hôn, vợ hoặc chồng có thể đứng tên một mình trên giấy chứng nhận QSD đất.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.”
Đây cũng là quy định được nêu tại khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”
Theo đó, khi tài sản chung của vợ, chồng là nhà hay đất đai thì phải ghi tên vợ và chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (hay thường gọi là Số đỏ). Tuy nhiên vợ hoặc chồng vẫn được đứng tên một mình trên số đỏ khi một trong hai được nhận thừa kế riêng, được tặng cho riêng, mua tài sản bằng tài sản riêng hoặc có thỏa thuận giữa hai bên.
Thủ tục đứng tên một mình trên giấy chứng nhận QSD đất
Sau khi hoàn tất hồ sơ, thủ tục sẽ thực hiện những bước sau:
Bước 1: Nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận (văn phòng một cửa UBND quận/ huyện hoặc Văn phòng đăng ký nhà đất thuộc Sở tài nguyên và môi trường).
Bước 2: Cơ quan tiếp nhận sẽ thông báo số tiền thuế, lệ phí trước bạ nhà đất để và địa chỉ nộp thuế.
Bước 3: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, lệ phí. Anh/chị chuyển bản gốc biên lai đã nộp thuế, lệ phí cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
Bước 4: Hai bên mang CCCD lên cơ quan nộp hỗ sơ ban đầu để nhận giấy chứng nhận QSD đất đã sang tên cho 1 người đứng tên.
Hãy liên hệ với Luật Tô Vàng ngay bây giờ để trò chuyện với luật sư của chúng tôi nếu các thông tin trên chưa giải đáp được vấn đề của quý khách đang gặp phải. Chúng tôi sẽ lắng nghe những vấn đề pháp lý mà quý khách hàng đang đối mặt và cung cấp những lời khuyên đáng tin cậy và chính xác. Luật Tô Vàng - Luật sư Cần Thơ - Dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp.